Hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính

HƯỚNG DẪN SỐ 144/PV11(PX28)ngày 09/11/2006 của Giám đốc Công an tỉnh
23/11/2008

Về hướng dẫn Công an xã, Thị trấn xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ (Phần 1)

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 13/2002/NQ-CP ngày 19/11/2002 của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Giám đốc Công an tỉnh hướng dẫn Công an xã, thị trấn( sau đây gọi chung là Công an xã ) xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự ATGT đường bộ như sau:

I- NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ:
1- Luật Giao thông đường bộ số 26/2001/QH10 ngày 29/6/2001.
2- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 2/7/2002 của uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3- Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14.11.2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành 1 số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
4- Nghị định số 152/2005/NĐ-CP ngày 15.12.2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
5- Nghị định số số 40/1999/NĐ-CP ngày 23.6.1999 của Chính phủ về Công an xã.

II - CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, THẨM QUYỀN XỬ LÝ

1-Chức năng, nhiệm vụ:
1.1 Công an xã trong khi tuần tra, canh gác được kiểm tra giấy tờ, hàng hoá, phương tiện đối với người có dấu hiệu phạm tội hoặc vi phạm hành chính trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 6 Nghị định 40/CP về Công an xã).
Khi phát hiện có vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm xử lý vi phạm đó theo đúng quy định của pháp luật ( Khoản 2 Điều 4 Pháp Lệnh XLVPHC).
1.2 Mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử phạt phải thực hiện đúng qui định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ qui định chi tiết một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, các qui định của Nghị định 152/2005/NĐ-CP ngày 15-12-2005 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (Khoản 1, Điều 4 Nghị định 152/2005/NĐ-CP).
* Như vậy: Trưởng, phó Công an xã và Công an viên có chức năng, nhiệm vụ kiểm tra và xử lý các vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông theo thẩm quyền trong phạm vi quản lý của địa phương mình.
2. Thẩm quyền:
Trưởng Công an xã, Phó Công an xã được uỷ quyền có quyền:
- Phạt cảnh cáo
- Phạt tiền đến 500.000đ
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 500.000đ.
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.
- Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra.
- Buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, văn hoá phẩm độc hại.
(Điều 28, Khoản 3 Điều 31, Điều 41 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Điều 14 NĐ 134/2003/NĐ-CP ).

III – TRÌNH TỰ , THỦ TỤC TIẾN HÀNH

1.Tổ chức tuần tra, phát hiện vi phạm hành chính:
1.1 Căn cứ tình hình hoạt động giao thông thực tế ở địa phương như: tuyến đường, các tụ điểm phức tạp về giao thông, hoạt động của các loại phương tiện giao thông... Ban Công an xã có kế hoạch cụ thể báo cáo Chủ tịch UBND xã, thị trấn( gọi chung là Chủ tịch UBND xã ) phê duyệt để tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác đảm bảo an ninh trật tự, trật tự ATGT, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ.
1.2 Lập các tổ tuần tra từ 2-3 đồng chí, tuần tra theo phương thức có thể đi bộ hoặc bằng phương tiện thô sơ, cơ giới. Trong khi làm nhiệm vụ phải mặc trang phục của Công an xã đã được trang cấp, có sổ ghi chép, biên bản, quyết định xử phạt, các biểu mẫu giấy tờ cần thiết khác và các công cụ hỗ trợ để phục vụ công tác. Hết ca tuần tra phải ghi sổ tình hình và thường xuyên tập hợp báo cáo kết quả xử lý cho Chủ tịch UBND xã để chỉ đạo.
2. Lập biên bản vi phạm hành chính:
2.1 - Trưởng công an xã, Phó Công an xã được uỷ quyền trong khi làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác, giữ gìn an ninh trật tự, trật tự ATGT trên địa bàn xã, thị trấn phát hiện các vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự ATGT có trách nhiệm lập biên bản theo mẫu quy định( trừ vi phạm hành chính theo thủ tục đơn giản ) và phải thực hiện taị nơi xảy ra vi phạm( Khoản 3 Điều 31, Khoản 1 Điều 55 Pháp lệnh XLVPHC, Khoản 1 Điều 20 NĐ 134/2003/NĐ-CP ).
- Trong trường hợp người lập biên bản không có thẩm quyền xử phạt thì thủ trưởng của người đó là người có thẩm quyền xử phạt cũng phải ký tên vào biên bản; trường hợp cần thiết thì tiến hành xác minh trước khi ký biên bản( Khoản 2 Điều 20 NĐ 134/2003/NĐ-CP).
* Như vậy, ngoài Trưởng Công an xã và Phó Công an xã được uỷ quyền thì Công an viên được lập biên bản nhưng Trưởng Công an xã, hoặc Phó Công an xã được uỷ quyền cũng phải ký tên vào biên bản.
2.2 Khi lập biên bản vi phạm hành chính phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp người vi phạm hoặc tên địa chỉ tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt( nếu có); tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ ( nếu có); lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ( Khoản 2 Điều 55 Pháp lệnh XLVPHC ).
2.3 Biên bản được lập thành hai bản; phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cũng phải ký vào biên bản. Nếu người vi phạm, người đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản ( Khoản 3 Điều 55 Pháp lệnh XLVPHC ).
2.4 Biên bản lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm một bản. Nếu vụ vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì người đó phải gửi biên bản đến người có thẩm quyền xử phạt( Khoản 4 Điều 55 Pháp lệnh XLVPHC ).
2.5 Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần để xác minh tình tiết làm căn cứ quyết định xử lý hoặc ngăn chặn ngay vi phạm hành chính. Theo quy định tại điều 45, điều 46 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì chỉ có Chủ tịch UBND xã, thị trấn mới có quyền quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trưởng Công an xã không được ra quyết định tạm giữ. Vì vậy, trong trường hợp cần thiết phải tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, Trưởng Công an xã phải báo cáo Chủ tịch UBND xã ra quyết định tạm giữ và lập biên bản tạm giữ, bảo quản theo quy định.
3- Ra quyết định xử phạt:
3.1 Đối với vụ việc đơn giản, hành vi rõ ràng, không cần phải xác minh thêm thì phải ra quyết định xử phạt trong thời gian không quá 10 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải theo đúng mẫu quy định. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp như tang vật, phương tiện cần giám định, cần xác định rõ đối tượng vi phạm hành chính hoặc tình tiết phức tạp khác thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản (Khoản 1,Khoản 2 Điều 21 NĐ 134/2003/NĐ-CP).
Quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt và cơ quan thu tiền phạt trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày ra quyết định (Khoản 5 Điều 56 Pháp lệnh XLVPHC).
3.2 Trong trường hợp Trưởng Công an xã vắng mặt thì uỷ quyền bằng văn bản cho Phó Công an xã. Phó Công an xã được uỷ quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định xử lý vi phạm hành chính do mình thực hiện và không được uỷ quyền tiếp cho bất kỳ cá nhân nào khác( Điều 14, NĐ134/2003/NĐ-CP).
3.3 Trường hợp vi phạm hành chính, mức phạt quy định đến 100.000đ, thì Trưởng công an xã hoặc Phó công an xã được uỷ quyền ra quyết định xử phạt ngay tại chỗ theo mẫu quy định, không phải lập biên bản. Nếu người vi phạm nộp tiền tại chỗ thì người có thẩm quyền phải viết biên lai có mệnh giá in sẵn do Bộ tài chính phát hành( Khoản 2 Điều 19, NĐ134/2003/NĐ- CP).
3.4 Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của Trưởng công an xã, Phó trưởng CA xã được uỷ quyền nghĩa là có mức phạt tối đa trên 500.000đồng, thì người đó phải báo cáo Chủ tịch UBND xã đồng thời chuyển vụ vi phạm đến Trưởng Công an huyện để xử lý theo qui định( Mục b Khoản 3 Điều 42 Pháp lệnh XLVPHC).
3.5 Quyết định xử phạt do Trưởng Công an xã hoặc phó Công an xã được uỷ quyền ký phải đóng dấu Công an xã.(Khoản 1, Điều 28 NĐ 134/2003/NĐ-CP).
4-Thu, nộp tiền phạt vi phạm hành chính:
4.1 Biên lai mệnh giá và biên lai thu tiền phạt do Bộ Tài chính phát hành Chủ tịch UBND xã phải trực tiếp nhận tại kho bạc nhà nước huyện, thị xã, thành phố để cấp cho Trưởng Công an xã và sau đó phải chịu trách nhiệm quyết toán với Kho bạc Nhà nước nơi nhận.
4.2 Đối với những trường hợp vi phạm mức xử lý trên 100.000đ và ở những địa bàn không phải vùng miền núi xa xôi, hẻo lánh đi lại khó khăn thì hướng dẫn cho người vi phạm đến nộp tiền phạt tại kho bạc nhà nước. (Khoản 1, Điều 25, NĐ 134/2003/NĐ-CP ).
4.3 Tại những vùng miền núi xa xôi, hẻo lánh việc đi lại khó khăn và những nơi không có hoặc cách xa Kho bạc Nhà nước, ngoài giờ hành chính thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền trực tiếp cho người có thẩm quyền( Khoản 2,Điều 25 NĐ 134/2003/NĐ-CP).
Trong thời hạn không quá 7 ngày kể từ ngày thu tiền phạt, người có thẩm quyền phải nộp tiền phạt vào Kho bạc Nhà nước( Khoản 3, Điều 58 Pháp lệnh XLVPHC ).

IV - IN ẤN, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG BIỂU MẪU VÀ TIỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH:

1- In ấn, Quản lý sử dụng biểu mẫu:
1.1 Công an các huyện, thị xã, thành phố lập dự trù đề xuất UBND cùng cấp trích kinh phí ATGT in các loại biểu mẫu sử dụng khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đảm bảo TTATGT được ban hành kèm theo Nghị định số 134/2003/NĐ-CP; Quyết định 626/2004/QĐ-BCA(C11) cấp phát cho Công an xã sử dụng. Đồng thời tổ chức hướng dẫn Quản lý theo đúng chế độ hồ sơ quy định của ngành.
1.2 Công an xã phải sử dụng các loại biểu mẫu đúng quy định, không phô tô, đặt in các biểu mẫu khác. Khi sử dụng hết phải quyết toán với Công an huyện, thị xã, thành phố. Nếu hư hỏng phải lưu lại theo cuốn, nếu để mất phải bị xử lý theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an
2- Quản lý sử dụng tiền nộp phạt:
Số tiền do Công an xã xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ, sau khi nộp vào Kho bạc Nhà nước, Công an huyện, thị xã, thành phố tập hợp, báo cáo Chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố đề nghị sở Tài chính và UBND tỉnh phê duyệt, phân bổ, trích tiền phạt cho Công an xã theo quy định; Việc quản lý sử dụng khoản kinh phí này phải thực hiện theo Thông tư số 25/2003/TT-BTC ngày 28/3/2003 của Bộ Tài chính.

V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Công an xã, khảo sát, xây dựng kế hoạch tuần tra, kiểm soát trên địa bàn trình Chủ tịch UBND xã phê duyệt để thực hiện theo định kỳ hàng tháng, quý, 6 tháng, 1 năm.

2. Công an các huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch, tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho công an xã thực hiện các nội dung liên quan như: lập biên bản, ra quyết định xử phạt, thanh toán tiền phạt, sử dụng quản lý các loại biểu mẫu v.v...

3. Hàng tháng tập hợp số liệu báo cáo kết quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự ATGT của Công an xã, về Giám đốc Công an tỉnh ( qua PC26 và PX28) để theo dõi chỉ đạo.
4. Phòng xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc(PX28), Phòng Cảnh sát giao thông(PC26) có trách nhiệm giúp Giám đốc hướng dẫn kiểm tra đôn đốc lực lượng Công an xã trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Biên soạn giáo trình hướng dẫn nghiệp vụ cho Trưởng, phó Công an xã, tại các lớp tập huấn nghiệp vụ hàng năm do Công an tỉnh tổ chức.
Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc, các đơn vị tập hợp báo cáo về Công an tỉnh( qua PC26 và PX28) để Giám đốc chỉ đạo ./.

(23/03/2007)